Phật Di Lặc trong truyền thuyết xưa và trong phong thủy.

Mặc dù tượng Phật Di Lặc bằng gỗ là bức tượng phổ biến trong căn nhà của người Việt, nhưng mấy hiểu về nguồn gốc của tượng Phật Di Lặc, cũng như cuộc sống của người. Phố Đồ Gỗ sẽ giúp các bạn tìm hiểu về Phật Di Lặc qua bài viết dưới đây.

Nguồn gốc phong thủy của tượng Phật Di Lặc.

Phật Di Lặc sinh ra trong gia đình quý tộc Bà La Môn và gia đình ngời sống tại thôn Kiếp Ba Lợi thuộc Nam Thiên Trúc, hiệu là A-Dật–Đa (Adijita) (không gì có thể thắng nổi). Theo Phạn Ngữ phiên âm thì Di Lặc là “Từ Thị” (và tấm ròng rộng lượng và cái nhìn từ bi ).

Bắt nguồn từ Hồng Kông và được truyền bá đến nước ta từ rất lâu, kể từ đó truyền thuyết về Phật Di Lặc có ảnh hưởng vô cùng sâu đậm tới người dân Việt. Ngay từ đời Tây Tần (265 – 316) đã có những bức họa về Phật Di Lặc, Ngài được khắc họa giống như các vị thần khác, không có nhiều sự khác biệt như ngày nay. Được miêu tả là tay cầm bình nước và đầu đội chiếc mũ. Trong phật giáo Hồng Kông Phật Di Lặc được khắc họa với tư thế ngồi trên ghế hoặc trên đài, tay chống cằm, một chân vắt chéo, một chân buông thõng mà suy nghĩ về tương lai.

Hình tượng Phật Di Lặc bây giờ.

Hình tượng Phật Di Lặc miệng cười rạng rỡ như ngày nay mãi đến thời Ngũ Đại (907 – 960) mới xuất hiện. Người được miêu tả là tính tình rộng rãi, cởi mở và thêm vào đó sau lưng có bị vải gai luôn nở nụ cười hồn nhiên và thích rong ruổi mọi nơi. Đó chính là hình tượng Phật Di Lặc hoàn chỉnh nhất và còn giữ nguyên đến ngày nay. Trong kinh sách tại tự viện Phật giáo đã gọi là “Tiếu khẩu Di Lặc Phật”.

Tiểu Khấu Di Lặc Phật, dân gian thường hay gọi theo tên gần gũi là “Tiếu Phật” hay “Di Lặc Phật bụng phệ”. Cái tên này đã xuất hiện từ lâu vào thời Ngũ Đại phỏng theo hình tượng và tướng mạo một vị hòa thượng tên Khế Thử và còn xuất hiện nhiều trong các tự viện thời đó. Hòa thượng Khế Thử theo ghi chép thì là người vùng Minh Châu (Triết Giang) hiệu của ông là Đinh Công Tử, hình tượng ông có 1 túi vải gai sau lưng, tay chống Bích Trượng và thích ngao du thiên hạ, ông hay đi khắp nơi vừa hành khất vừa thuyết pháp, từ đó mà người ta gọi ông với cái tên thân mật là Hòa Thượng Túi Vải – “Bố Đại Hòa Thượng”

Theo truyền thuyết thì Bố Đại Hòa Thượng có ngoai hình mập mạp, ngôn từ không câu lệ tiểu tiết, y phục tùy tiện ngoài ra còn có biệt tài biết trước nắng mưa, dự đoán sự dữ lành, vô cùng thần bí. Bố Đại Hòa Thượng được kể là viên tịch vô cùng thanh thản và nhẹ nhàng, kể rằng tại Nhạn Lâm ông ngồi trên một tảng đá mà viên tịch tại đó trước khi viên tịch ông còn để lại một bài viết ngắn “Di Lặc đúng Di Lặc, phân thân ra muôn vàn. Mọi lúc đi dạy người đời mà người đời không biết”. Được biết ông viên tịch tại năm Trinh Minh thứ 2 đời Hậu Lương (916).

Dựa vào bài viết của ông, người ta cho rằng ông chính là thế thân của Phật Di Lặc người đời đã  an táng  ông tại 1 nơi cách 2 dặm về phía tây Nhạc Lâm Tự , và lập tháp thờ, xây tượng và lấy tên là :Am Di Lặc”… Dần dần, theo thời gian, bức tượng ngày càng được lưu truyền rộng rãi với miệng cười tươi tắn, và cái bụng lớn.Khi thì tượng được điêu khắc với dáng ngồi cùng 5 đứa trẻ quanh mình với tên gọi “Ngũ tử quấy Di Lặc” có nơi lại là 6 đứa trẻ, khi thì tay cầm tích trượng, sau lưng là túi vải quây giản, y phục giản dị

Theo thời gian, những bức tượng về Phật Di Lặc ngày càng phong phú, với nhiều dáng đứng ngồi khác nhau.. Ngày nay hình ảnh người còn được gắn với phú quý, may mắn với các hình tượng trạm trổ công phu như tay nâng nén vàng hoặc quảy bị tiền lấp lánh…Đây còn là mong ước thiết thực của con người với Phật Di Lặc.

 

Leave A Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *